Trà của người Việt

26/04/2011 4:17:23 CH

Trà từ lâu đã trở thành thứ nước uống thân thuộc của người Việt từ Bắc vào Nam, từ nông thôn tới t... 


Trà của người việt

  

Trà từ lâu đã trở thành thứ nước uống thân thuộc của người Việt từ Bắc vào Nam, từ nông thôn tới thành phố, đâu đâu chén trà cũng là để mở đầu câu chuyện.

 

Nếu có dịp về vùng thôn quê miền Bắc bạn sẽ thấy các cụ già sáng ra chưa kịp làm gì đã vội đun ấm nước sôi, vò chè xanh hãm nước uống. Hay ở thành phố thì mỗi khi nhà có việc chén trà là thứ nước không thể thiếu. Pha trà tiếp khách đã trở thành một thói quen, cử chỉ văn hóa lâu đời của người Việt.

Việt Nam có rất nhiều loại trà khác nhau từ trà xanh, trà khô, trà sen… cho tới những loại trà được cách tân theo nhu cầu và cải tiến xã hội như trà gừng, trà atisô, trà hoa cúc, trà linh chi…Nhưng được yêu thích và dùng phổ biến trong đời sống hàng ngày của người dân Việt vẫn là các loại trà dưới đây:

Trà xanh (chè xanh)

Trà xanh hay còn gọi là chè xanh, từ lâu đã phổ biến trên khắp các vùng miền Việt Nam. Đâu đâu người ta cũng thấy chè xanh hiện diện, thứ nước uống mà ai ai cũng có thể dùng, vừa để giải khát, giải nhiệt, chống ung thư rất tốt.

Lá chè xanh - ảnh Đoàn Xuân

 

 Ở thôn quê (phổ biến nhất là miền Bắc) trước kia thường mỗi nhà hay có một hàng chè trồng cuối vườn, để hàng ngày hái lá hãm nước uống.

Ấm tích hãm chè xanh - ảnh Đoàn Xuân

 

Chè xanh chỉ việc hái xuống, rửa sạch, vò nhẹ (xé nhỏ) cho vào trong ấm tích (làm bằng sành), châm nước sôi hãm khoảng 30 phút là có thể dùng được. Muốn cho nước xanh và ngon thơm thì lúc vò chè phải nhẹ tay, chỉ làm cho lá chè giập chứ không nát, và khi hãm phải ủ chè cho chín trong những ấm tích được phủ bằng khăn hay đụn rơm.

Trà khô

 

Trà khô cũng là một dạng của chè xanh, khác là chè khô được làm từ những búp non (hai ba lá) hái trên những đồi chè cao, rồi phơi nắng hay sấy cho khô mới dùng.


Hái chè trên đồi - ảnh nguồn thainguyen.gov.vn

 

Việt Nam nổi tiếng về trà khô Thái Nguyên, bởi trà được trồng và phát triển trong môi trường đồi núi, ngấm cái nguồn nước trên miền cao nên rất thơm ngon.

Vào những ngày mùa đông lạnh giá, chén trà nóng là người bạn không thể thiếu trong các gia đình của người miền Bắc. Nhiều người nghiền trà khô, uống quanh năm suốt tháng…Đặc biệt khi tết đến xuân về thì hầu như nhà nào cũng có ấm trà khô hãm nước mời khách bên cạnh dĩa mứt gừng hay các loại hạt bí.

Trà sen

 

Trà sen là một loại trà đại diện của văn hóa trà Việt Nam, trà hái từ những búp non (từ 1 tới 2 lá) ướp với sen. Ướp trà sen là cả một nghệ thuật tinh tế mới đạt được hương thơm như người làm mong muốn.

Cô Thơm hái sen trên đầm - ảnh Đoàn Xuân

 

Trung bình cứ 1kg trà khô thì cần tới 800 – 1000 bông sen. Ngày trước ở Hà Nội nổi tiếng với sen ở đầm Đồng Trị, làng Quảng Bá, Hồ Tây vì sen ở đây vừa thơm vừa to, một bông sen có từ 50 – 80 cánh. Để sen có mùi thơm thì thường người ta sẽ hái vào sáng sớm, bông sen khi đó còn chưa tỏa hết hương và thấm sương sớm… sen hái về tách lấy phần hạt gạo. Cách ướp trà thì vô cùng công phu, cứ một lớp trà lại rải thêm một lớp gạo sen. Sau cùng phủ kín bằng giấy bản (loại giấy dùng để quấn hương bài) hoặc bằng chính lá sen cuộn lại với nhau. Sau từ 3 – 4 ngày dùng sàng (dụng cụ làm bằng tre) lọc lấy chè sấy khô rồi lại tiếp tục ướp liên tục như vậy khoảng từ 5 – 6 lần tùy vào độ đậm đặc hương sen mà người làm muốn có.

Gạo sen dùng để ướp với trà  - simplevietnam.com

 

Ngày trước khi chưa có máy sấy người ta thường làm thủ công, mỗi lần sấy chè phải sấy bằng cách cho nước sôi vào bình đậy kín, để trong thúng rồi cho chè vào xung quanh áp vào bình nước nóng. Làm như thế để hương sen kết đọng trong mỗi cánh trà lâu hơn.

Có lẽ vì thế mà khi thưởng thức trà sen ta mới cảm nhận được vị chè ngọt mà lại mát, mùi thơm nhẹ nhàng thanh tao. Một ấm trà sen có thể uống nhiều tuần trà mà hương thơm thì vẫn còn đọng lại ngan ngát hương thơm.

Đoàn Xuân

 

 

 

 





rating
  Ý kiến bạn đọc

Họ tên
Tiêu đề
Ý kiến bạn đọc
Nhập mã xác nhận